Mùa thu về mang theo những “Tia nắng xanh” trong veo của khoảng trời tuổi trẻ. Tiếng trống tựu trường có gợi lòng ai nhớ đến mái trường Cấp 3 Diễn Châu 1 (nay là THPT Nguyễn Xuân Ôn) một thời gian khó nhưng lấp lánh ý chí và tình thầy trò sâu nặng?
Ban Biên tập xin trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Phan Đình Trạc – Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương – Nguyên Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, cựu học sinh khóa 17 (1972-1975) Trường phổ thông cấp 3 Diễn Châu 1 gửi tặng nhà trường. Những dòng ký ức chân thành, tràn đầy tự hào từ một người con ưu tú chính là lời nhắn gửi vô giá tới các thế hệ học sinh hôm nay: Hãy trân trọng từng khoảnh khắc dưới mái trường để nuôi dưỡng ước mơ và cống hiến cho quê hương.
Niên khóa 1972-1975 Trường cấp 3 Diễn Châu 1 (Trường THPT Nguyễn Xuân Ôn) của chúng tôi có 10 lớp – một thế hệ học sinh trưởng thành trong những năm tháng đất nước còn vang tiếng bom đạn của quân xâm lược. Mới ngày nào đó còn bỡ ngỡ với bạn bè, thầy, cô khi mới vào lớp 8, mà nay đã U70, một số đã ngoài 70, đã là ông, bà cả rồi, và nhiều bạn đã ra đi vĩnh viễn. Đến lứa tuổi này hay quên hiện tại, nhưng lại nhớ nhiều về quá khứ. Dù đang công tác hay đã nghỉ hưu, dù nghề này hay nghiệp khác, dù chức vụ to hay nhỏ, nhưng gặp nhau ngày tựu trường đều là học sinh, là thầy – trò. Cứ mỗi lần nhớ về thời học sinh, chúng tôi lại thấy mình chưa già, mà đang như tuổi học trò, thật vô tư, trong sáng và đầy ước mơ, hoài bão, với bao kỷ niệm, dấu ấn không thể nào quên.

Hồi ấy, lớp học chỉ là những căn phòng được dựng bằng tre, nứa, mái lá, mùa hè nắng đổ vào bảng, mùa đông gió lùa từng đợt qua vách hở. Bàn ghế mộc mạc, sách vở thiếu thốn, nhưng trong cảnh nghèo khó ấy lại sáng lên tinh thần ham học, ý chí vươn lên và niềm khát khao tri thức. Mỗi bước chân đến trường không chỉ là hành trình tìm con chữ, mà còn là hành trình nuôi dưỡng ước mơ – ước mơ được góp phần nhỏ bé vào sự đổi thay của quê hương, của đất nước, của chính bản thân mình và gia đình mình. Thầy, cô giáo có những người mới ra trường, lần đầu lên bục giảng, có những người vừa rời chiến trường, còn mang vết thương chưa lành, hàng ngày vẫn say sưa giảng bài. Họ không chỉ dạy chữ, mà còn dạy cách làm người, dạy chúng tôi sống có lí tưởng, có trách nhiệm. Họ dạy không chỉ bằng phấn trắng, bảng đen, mà bằng chính cuộc đời và tấm gương từ bản thân mình.
Chúng tôi vào cấp 3 khi đang còn chiến tranh phá hoại miền Bắc; lớp 8 phải sơ tán ở Diễn Lợi; sau Hiệp định Pa-ri năm 1973, lại dời về Diễn Phúc và sau đó lại dời về Diễn Thành (địa điểm Trường hôm nay). Nhà trường phải 3 lần di dời địa điểm, nhưng tất cả đều do học sinh, phụ huynh và giáo viên cùng tự làm: từ đào hào, đắp lũy, vận chuyển vật liệu, đắp nền, cưa, đục, dựng nhà, lợp mái, thưng phên… nhưng rất đẹp, ngăn nắp và sạch sẽ.
Học sinh thời đó không đủ sách giáo khoa và vở viết; ngô, khoai, sắn thay cơm; chân đất thay xe đạp; quần, áo còn phải vá; nhưng bạn nào cũng chăm học và học nghiêm túc tất cả các môn, nhiều bạn ở xa trường còn mượn nhà trọ để học. Bạn học khá, giỏi giúp đỡ bạn yếu; tăng thời gian học tổ, học nhóm để giúp nhau. Tôi được Hoàng Năm, Phan Tải thường xuyên chở đi học.
Giáo viên rất nhiệt tình, tận tâm và chu đáo; ngoài giờ lên lớp còn đến thăm từng gia đình học sinh, kiểm tra “góc học tập” của các em. Đầu giờ học bài mới, học sinh phải luân phiên giải bài tập về nhà cho cả lớp, sau đó giáo viên phân tích, giảng giải, kết luận. Tôi và Quỳnh thường được thầy, cô mời lên giải bài mẫu cho cả lớp; Quỳnh giỏi hơn tôi về Toán, tôi giải bài mẫu cả Toán, Lý, Hóa, Sinh. Chúng tôi thỉnh thoảng cãi nhau về bài giải, và cãi cả thầy, cô.
Tôi còn rất nhớ những giờ giảng đầy nhiệt huyết của cô Diệp, thầy Dinh dạy Văn; thầy Giao, thầy Long dạy Toán; thầy Trân, cô Sâm, cô Nam dạy Lý; cô Huỳnh dạy Sinh; cô Tùng dạy Kỹ thuật; cô Minh dạy Sử; cô Hường dạy Địa lý; thầy Canh, cô Bình dạy Hóa; thầy Hạo dạy Chính trị; cô Đào dạy Thể dục; thầy Thông bồi dưỡng học sinh giỏi Toán; thầy Miên bồi dưỡng học sinh giỏi Lý… và còn nhiều lắm những thầy, cô như thế!
Thời cấp 3 của chúng tôi tuy đói, nghèo, khó khăn, vất vả, nhưng ý chí và quyết tâm học tập để vươn lên thật lớn lao; tình bạn thật vô tư, trong sáng, thông cảm, chia sẻ với nhau; bạn khác giới gần thì ngượng, xa thì nhớ! Tình Thầy – Trò như Mẫu – Tử. Bạn Tấn lớp 10I lao động đào hào tại nơi Trường sơ tán ở xã Diễn Lợi (xã Tân Châu ngày nay) bị bạn Năng sơ suất chắn đứt ngón chân, cô Diệp trực tiếp băng bó; lao động dựng lán học ở Diễn Phúc, tôi dẫm đinh cắm sâu vào bàn chân, các bạn phải giữ chặt thanh gỗ có đinh để tôi rút chân ra, và chính cô Diệp lại trực tiếp băng bó. Ra trường công tác, làm đến lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, cô vẫn luôn nhắc nhở chú ý giữ gìn. Đấy, thầy, cô của chúng tôi là những bậc Phụ – Mẫu như thế đấy! Thật tình cảm, tâm huyết, thanh cao và tuyệt vời!
Những ngày cuối cấp trôi qua vội vã như cơn gió đầu hạ. Thời gian học không còn nhiều mà bao lo toan cho tương lai đã hiện rõ trong từng ánh mắt của lũ học trò năm ấy. Khi đang học lớp 10 thì diễn ra Chiến dịch giải phóng miền Nam, cứ sau mỗi buổi lên lớp lại kéo nhau ra Ngã 3 thị trấn Diễn Châu để theo dõi Bản đồ chiến thắng. Hầu hết các bạn trai lớp 10 vào quân đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, được công nhận tốt nghiệp đặc cách; chỉ số ít bạn trai còn lại và các bạn gái dự thi tốt nghiệp. Vì hoàn cảnh gia đình (bố ốm, mất), tôi được hoãn nhập ngũ. Hồi đó, thi tốt nghiệp 6 môn, có số ít đạt loại giỏi, trong đó có tôi. Thi đại học xong, mấy bạn rủ nhau tuyển vào Công an (đầu têu là Tấn). Tôi trúng tuyển vào Đại học An ninh (Học viện An ninh nhân dân ngày nay) với 3 môn thi khối A (Toán, Lý, Hóa) đạt 18,5 điểm, cộng một điểm ưu tiên (học sinh các tỉnh khu 4) thành 19,5 điểm. Vào Đại học An ninh rồi thì chị gái mới viết thư ra cho hay có Giấy báo của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội gọi đi đại học ở Liên Xô, nhưng chị đã gửi lại Giấy báo cho Trường, vì trong Giấy báo có dặn: “Nếu đã đi nghĩa vụ quân sự hoặc đi trường khác thì gửi lại Giấy báo cho Nhà trường”. Thế là ở lại học Đại học An ninh. Hồi đó, có biết gì đâu mà chọn trường, chỉ nghe câu ca: “Nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách khoa, Sư phạm bỏ qua, Nông Lâm ngó tới”. Thế là ghi 3 nguyện vọng: Bách khoa, Tổng hợp sinh, và Hàng hải, không ngỡ mình lại đậu Bách khoa, mà còn dư điểm đi nước ngoài (18 điểm). Kỳ thi vào Đại học năm ấy, lớp 10I của chúng tôi còn có ba bạn nữa trúng tuyển vào Đại học (Liễu, Loan tròn, Hùng) và một số bạn trúng tuyển vào Cao đẳng. Riêng Quỳnh bị ốm, phải nghỉ đến năm sau mới thi vào Đại học.
Đời người ai cũng trải qua những bước ngoặt, những thăng trầm, những khúc quanh không thể đoán trước; không ai định sẵn trước được con đường sự nghiệp của mình. Tôi cũng không là ngoại lệ. Tốt nghiệp Đại học An ninh nhân dân, về Bộ Công an công tác (tại Thành phố Hồ Chí Minh), một năm sau về công an tỉnh Nghệ An; từng trải qua các chức vụ: Phó Trưởng Công an thành phố Vinh, Phó Giám đốc và Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An. Khi đang là Giám đốc Công an tỉnh, tôi đã được quy hoạch Lãnh đạo Bộ Công an, Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh. Tâm huyết với nghề và nghĩ rằng mình sẽ theo nghiệp an ninh cho đến lúc nghỉ hưu. Năm 2005, lúc công bố Thông báo của Đảng ủy Công an Trung ương về việc điều tôi ra giữ chức Tổng cục Phó Tổng Cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, thì cũng là lúc Ban Tổ chức Trung ương yêu cầu ở lại để bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh. Thế là tôi “rẽ ngang” từ tháng 9/2005 sang lĩnh vực công tác chính quyền và công tác Đảng (Chủ tịch UBND tỉnh, Bí thư tỉnh ủy). Tháng 3/2013 được điều ra giữ chức Phó Trưởng Ban, rồi Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương. Dù làm gì, ở đâu, mỗi khi nhìn lại, tôi luôn tìm thấy điểm tựa tinh thần nơi mái trường xưa – nơi dạy tôi biết nỗ lực làm việc, khiêm nhường, sống tử tế và có trách nhiệm với cộng đồng.

Chúng tôi tự hào về Trường cấp 3 Diễn châu 1 – THPT Nguyễn Xuân Ôn, tự hào về những thế hệ thầy, cô giáo, tự hào về những thế hệ học sinh đã qua mái trường này. Cảm ơn Nhà trường, cảm ơn thầy, cô đã dạy bảo chúng tôi khôn lớn, trang bị cho chúng tôi những kiến thức, kỹ năng cơ bản để sống và làm người, để học cao hơn, công tác tốt hơn, và luôn dõi theo chúng tôi để nhắc nhở, uốn nắn trong công tác và cuộc sống.
Thời gian dài vô tận, nhưng cũng rất ngắn, trôi đi rất nhanh, không lấy lại được. Mất thời gian là mất tuyệt đối. Tôi mong các em đang ngồi trên ghế Nhà trường hãy chịu khó, tranh thủ mọi thời gian có thể để học; học thầy, học bạn, học trên lớp, học ngoài đời; học ở sách, báo; học nữa, học mãi; học để biết, để làm người, để lao động, cống hiến cho quê hương, đất nước; không học tủ, học lệch, hãy học nghiêm túc tất cả các môn, ưu tiên thời gian cho những môn mà mình đam mê, có năng khiếu. Phổ thông là trang bị kiến thức cơ bản, toàn diện; Trung cấp, Cao đẳng, Đại học trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên ngành sâu.
Tôi cũng mong thầy, cô không ngừng cập nhật kiến thức, đổi mới phương pháp dạy học, khơi dậy sự đam mê và khát vọng cống hiến, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của học sinh: Thầy “thiết kế”, học sinh “thi công”, tự làm ra sản phẩm cho chính mình.
Tôi may mắn được đồng hành cùng đất nước trong những giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ, chứng kiến quê hương từng ngày đổi mới. Trong những quyết sách, mỗi chuyến công tác, đôi khi giữa những bộn bề, tôi vẫn nhớ về những buổi sáng đi bộ lấm láp đến trường trong sương sớm, nhớ những người bạn thân đã từng chia sẻ ngọt bùi, tiếp sức cho tôi trong gian khó; nhớ những thầy, cô đã luôn tận tâm, sát cánh với Tôi trong quá trình học tập, công tác….
Ngày trở lại, ngôi trường cổ kính rêu phong đang khoác lên mình diện mạo mới, khang trang, rạng rỡ hơn. Nhưng trong lòng tôi, đâu đó vẫn vẹn nguyên hình ảnh những chiếc bàn tre ọp ẹp, những cuốn sách cũ sờn gáy, phai màu, những lời giảng bài tâm huyết của thầy, cô, và lớp học mùa đông lũ học trò dúm cả vào nhau tránh gió,… Thời gian có thể làm bạc tóc những người học trò cũ, nhưng không thể xóa mờ những kỷ niệm đã in sâu trong trái tim. Tôi có niềm tin mãnh liệt rằng, nơi này sẽ viết tiếp bản hùng ca về sự bất khuất, kì vĩ và thiêng liêng của sự học, tôn vinh thêm tinh thần hiếu học, khí tiết kẻ sĩ, sự thanh liêm và lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của Lương Giang tướng công – Tiến sĩ Nguyễn Xuân Ôn; tô điểm thêm cho vẻ đẹp của mảnh đất thiêng xứ Nghệ. Nơi đây không chỉ dạy chữ, mà còn là nơi nuôi lớn con người, nơi mỗi học sinh đều có thể bắt đầu một hành trình đi xa hơn, cống hiến nhiều hơn cho Tổ quốc, cho quê hương mình.
Chúng tôi – những thế hệ học sinh đã qua mái Trường này, nguyện sống, học tập và làm việc thật xứng đáng với danh dự là học sinh của Trường, góp phần giữ gìn, phát huy, vun đắp và tô thắm mãi truyền thống Trường Cấp 3 Diễn Châu 1 – THPT Nguyễn Xuân Ôn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2026
P.Đ.T
———
